Dược tính chữa bệnh của hoa hòe

Tên khác: Hòe hoa, cây Hòe, Hòe. Tên khoa học: Styphnolobium japonicum (L.) Schott = Sophora japonica L., họ Đậu (Fabaceae). Mô tả: Cây: Cây gỗ, to, cao có thể đến 15m, thân thẳng có chỏm lá tròn. Cành cong queo. Lá kép lông chim lẻ, có 9-13 lá chét hình trứng, đỉnh nhọn, nguyên

Bài thuốc từ hoa hòe

Hoa hoè màu trắng hay vằn lục nhạt, mọc thành chùm ở đầu cành. Mùa hoa vào tháng 5 đến tháng 8.  Thu hoạch hoa hoè lúc còn nụ, phơi hay sấy khô; dùng sống hay sao hơi vàng để pha nước uống, hoặc cho vào nồi đất đun to lửa, sao cháy tồn tính

Chữa khẩn cấp chứng đại tiện ra máu, tăng huyết áp

Theo dược học cổ truyền, hoa hòe vị đắng, tính hơi lạnh, có công dụng thanh nhiệt, làm mát và cầm máu (lương huyết và chỉ huyết). Nó thường được dùng để chữa các chứng bệnh chảy máu như đại tiện ra máu, tiểu tiện ra máu, băng huyết… Ngoài ra, hoa hoè còn có

Hoa hòe: Vị cứu tinh cho bệnh trĩ

Theo nam dược, hoa hoè vị đắng, tính hơi lạnh, có công dụng thanh nhiệt, lương huyết và chỉ huyết, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như đại tiện ra máu, trĩ chảy máu, tiểu tiện ra máu, băng huyết, rong kinh, chảy máu mũi… Dưới đây là các cách dùng hoa hòe

Giải độc thực phẩm bằng lá tía tô

Trong các sách thuốc Đông y, vị thuốc “Tô diệp” (lá kèm cành non của cây tía tô), được xếp vào loại thuốc loại thuốc cay ấm, làm cho ra mồ hôi để chữa bệnh cảm lạnh (Thuốc tân ôn giải biểu). Điều đó cho thấy, công dụng chính của tía tô là chữa cảm

Tía tô: Loại rau đa tác dụng trong chữa bệnh

Tía tô, tử tô, tên khoa học là Perilla frutescens (L.) Briton, thuộc họ hoa môi (Lamaiaceae). Có vị cay, mùi thơm, tính ấm. Lá có tác dụng làm ra mồ hôi, lợi tiêu hóa, trừ cảm lạnh. Thân cành lợi tiêu hóa. Hạt trừ hen, trị ho, làm long đàm. Một số ứng dụng

Công dụng chữa trị của lá tía tô

Khi bị vết thương chảy máu, bạn có thể lấy lá tía tô non tán nhỏ, đắp trùm lên chỗ máu đang chảy, rắc cho vừa kín rồi buộc lại. Làm như vậy, vết thương sẽ cầm máu, không gây mủ và không để lại vết sẹo khi lành. Ngoài tác dụng chữa vết thương

Cây xấu hổ giúp dễ ngủ

Để chữa mất ngủ và làm dịu thần kinh, có thể lấy lá cây xấu hổ 6-12 g sắc lấy nước, uống trước khi đi ngủ. Cũng có thể lấy lá cây xấu hổ, dây lạc tiên, mạch môn (củ cây tóc tiên), hạt muồng sao, hoài sơn (củ mài) mỗi vị 20 g, sắc

Cây tai tượng đỏ chữa bệnh gì?

Để chữa mụn nhọt chưa vỡ, lấy lá cây tai tượng đỏ 50 g, lá đại 50 g, lá táo 5 g; giã nát, đắp vào mụn nhọt. Mỗi ngày thay thuốc một lần. Tai tượng đỏ là cây thân gỗ nhỏ, nhiều cành lá mọc so le, có phiến to, chóp nhọn, mép có

Ráy gai chữa lở ngứa ở da

Cây ráy gai còn gọi là chóc gai, dã vu, hải vu, sơn thục gai hay cây cừa, cây móp (Nam bộ), tên khoa học Lasia spinosa Thwaites thuộc họ ráy (Araceae), là loại cây mọc hoang khắp nơi ở những vùng ẩm ướt, trên có tán che như ruộng nước, bờ ao, ven suối.

Ráy gai chữa đau nhức, viêm khớp

Cây “dáy gai” theo như bác mô tả trong thư, còn có tên là “chóc gai”, “ráy gai”, “sơn thục gai”, “cây cừa”, “mớp gai”, “cây móp” (Nam Bộ), “K’lang đờn” (dân tộc K’ho), trong các sách thuốc Đông y Trung Quốc có tên là “lặc từ cô”, “thiên hà dụ”, “thích dụ”, “thủy lặc

Kinh nghiện chữa bệnh từ dân gian từ húng chanh

Để chữa chảy máu cam, có thể lấy húng chanh 20 g, lá trắc bá sao đen 15 g, hoa hòe sao đen 10 g, cam thảo đất 15 g; sắc uống ngày một thang. Đồng thời lấy lá húng chanh đem vò nát, nhét vào bên mũi chảy máu. Húng chanh là cây thân

Bài thuốc chữa bệnh từ rau húng chanh

Húng chanh là loại rau thơm rất quen thuộc của nhân dân ta, được trồng rộng rãi khắp nơi. Là loài cây thảo, cao khoảng 30 – 50cm, phần thân sát đất hoá gỗ. Lá mọc đối, mọng nước, mép khía răng, vò trong tay thấy toả ra một mùi thơm dễ chịu, thoảng mát

Húng chanh chữa viêm loét niêm mạc miệng, lưỡi

Rau tần hay còn gọi húng chanh, tần dày lá… được nhân dân trồng trong vườn và thường làm gia vị. Ngoài ra, nó còn là một vị thuốc trong đông y; có công dụng: bổ phế trừ đàm, giải cảm, làm ra mồ hôi, thông khí, giải độc; trị các chứng: ho, viêm hầu

Rắn cắn, bò cạp và ong đốt: Lá Húng chanh tươi giã đắp

Húng chanh, Rau tần, Tần dày lá, Rau thơm lông, Dương tô tử, Sak đam ray – Plectranthus amboinicus (Lour.) Spreng (Coleus amboinicus Lour.), thuộc họ Hoa môi – Lamiaceae. Mô tả: Cây thảo có thể sống nhiều năm, cao 20-50cm, phần thân sát gốc hoá gỗ. Lá mọc đối dày mọng nước, hình trái

Cách bào chế đinh lăng thành thuốc

Đinh lăng hay còn gọi là cây Gỏi cá, có tên khoa học: Polyscias fruticosa L. Harms, họ Ngũ gia bì (ARLIACEAE) Đinh lăng là cây gỗ nhỏ, cao 0,8 – 1,5m, không lông, không gai. Lá kép 3 lần lông chim, dài 20 – 40cm. Lá chét có cuống nhỏ mảnh khảnh dài 3

Bộ phận làm thuốc của cây đinh lăng

Cây đinh lăng thường được trồng ở các đình chùa, trước sân nhà làm cảnh bởi lẽ có dáng cây, kiểu lá đẹp xum xuê và quanh năm xanh tốt. Ngày xưa, nhân dân thường lấy lá non của cây đinh lăng để ăn gỏi cá nên còn gọi là cây gỏi cá. Đinh lăng

Đả thông kinh mạch, khí huyết nhờ đinh lăng

Không chỉ là cây cảnh thông dụng, cây rau ăn được ưa thích trong dùng gỏi cá, nem cuốn, đinh lăng còn là một vị thuốc nam có tính năng chống dị ứng, giải độc thức ăn, chống mệt mỏi và làm tăng sức dẻo dai của cơ thể. Cây Đinh Lăng Đinh lăng thuộc

Đinh lăng chữa đau lưng mỏi gối hiệu quả

Rễ đinh lăng được thu hái  ở những cây đã có từ 4 – 5 tuổi trở lên. Khi đào lấy rễ, rửa sạch, cắt bỏ phần rễ sát với gốc thân, rễ nhỏ thì dùng cả, nếu rễ to thì dùng phần vỏ rễ. Thái nhỏ, phơi khô chỗ râm mát, thoáng gió để

Dược liệu chữa bạch biến theo dân gian

Cỏ Nhọ nồi (còn có tên Cỏ mực, Hạn liên thảo) vị chua, ngọt, tính hàn, vào 2 kinh can, thận; có tác dụng lương huyết, cầm máu, bổ thận, ích âm, thường dùng chữa trị can thận âm hư, các chứng huyết nhiệt, ho ra máu, đại tiểu tiện ra máu, băng huyết, rong