Đan sâm ẩm có tác dụng dược lý khá phong phú

Vị thuốc đan sâm đã được cả y học cổ truyền lẫn y học hiện đại chứng minh là có tác dụng điều trị tốt các bệnh như viêm gan, viêm thận cấp và mạn, hen, đau dây thần kinh tam thoa… Trà dược đan sâm dễ chế biến, lại rẻ tiền, có thể dùng thường xuyên để phòng và chữa nhiều bệnh.

Đan sâm (Radix Salviae miltiorrhizae) thực chất là rễ khô của cây đan sâm (tên khoa học là Salvia miltiorrhiza Bunge). Vị thuốc này trông giống nhân sâm, màu đỏ, vị đắng, tính hơi lạnh, có công dụng hoạt huyết, khứ ứ, tiêu thũng, chỉ thống, lương huyết, dưỡng huyết và an thần. Nó thường được dùng để chữa các chứng bệnh do huyết ứ gây nên như thống kinh, bế kinh, kinh nguyệt không đều, tâm thống, hung hiếp thống, quản phúc thống, phong thấp tý thống…

Từ xưa, giới chuyên ngành Đông y, Đông dược đã lưu truyền câu ngạn ngữ: “Nhất vị Đan sâm ẩm, công đồng Tứ vật thang”, nghĩa là chỉ một vị đan sâm cũng có tác dụng ngang với cả bài thuốc Tứ vật (gồm 4 vị thục địa, đương quy, bạch thược và xuyên khung, là bài thuốc “bổ huyết điều huyết” kinh điển của Đông y).

Các nghiên cứu hiện đại cho thấy, đan sâm có tác dụng dược lý khá phong phú:

– Làm giãn và tăng lưu lượng động mạch vành, phòng chống tích cực tình trạng thiếu máu và hoại tử cơ tim, làm chậm nhịp tim.

– Nâng cao sức chịu đựng của tế bào não và cơ tim trong điều kiện thiếu ôxy.

– Chống đông máu.

– Điều chỉnh rối loạn lipid máu: làm giảm cholesterol và triglycerid; ức chế và làm chậm quá trình hình thành các mảng vữa xơ động mạch.

– Bảo vệ và thúc đẩy sự tái sinh tế bào gan, chống tình trạng loét niêm mạc dạ dày, cải thiện công năng của thận và dự phòng cơn hen tái phát.

– Ức chế một số vi khuẩn như tụ cầu vàng, trực khuẩn E.coli, lỵ và thương hàn.

– Nâng cao sức miễn dịch, chống thương tổn do phóng xạ, thanh trừ và ức chế sự hình thành các gốc tự do, thúc đẩy quá trình liền sẹo vết thương.

– Trấn tĩnh và chống co giật.

Với việc phát hiện các tác dụng trên, hiện đan sam và các chế phẩm của nó được y học sử dụng để trị nhiều bệnh như viêm gan, viêm thận, hen, viêm thần kinh ngoại vi do tiểu đường, đau đầu do nguyên nhân mạch máu, ù tai do nguyên nhân thần kinh, mụn nhọt… Đặc biệt, nó được dùng trong các bệnh lý tim mạch như thiểu năng tuần hoàn não, tai biến mạch máu não, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, thiểu năng mạch vành, xuất huyết võng mạc, viêm động tĩnh mạch…

Hiện đan sâm không chỉ được dùng theo lối cổ truyền (thuốc sắc, viên hoàn hoặc bột) mà còn được sản xuất thành các chế phẩm như dịch tiêm truyền, viên nén, viên nang, trà tan… Tuy nhiên, các dạng thuốc này đều khá phức tạp, khó chế, khó dùng và đắt tiền. Cách đơn giản nhất vẫn là chế trà dược Đan sâm ẩm theo sách Dược thiện học Trung Quốc:

Đan sâm 6 g rửa sạch, thái mỏng rồi hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15-20 phút có thể dùng được, uống thay trà trong một ngày. Chú ý chọn loại đan sâm to chắc, khô, mềm, sắc ngoài đỏ tía, sắc trong vàng thâm, mịn, không có xơ và không có rễ con.

Nên dùng loại trà dược này với mục đích dự phòng tích cực, điều trị hỗ trợ hoặc điều trị duy trì đối với những bệnh đã nêu trên. Nếu sau khi uống, bệnh nhân bị đi lỏng thì trong các lần sau, nên sao qua đan sâm trước khi dùng, hoặc cho thêm vào ấm trà vài lát gừng tươi. Riêng đối với bệnh lý động mạch vành, để nâng cao hiệu quả trị liệu, có thể thêm với một số vị thuốc hoạt huyết khác như đàn hương, tam thất, hồng hoa, nguyệt lý hoa… Ví dụ: Đan sâm 15 g, tam thất 100 g, hai thứ tán vụn, mỗi ngày dùng 10 g, bọc trong túi vải, hãm uống thay trà.

Theo – Sức Khỏe & Đời Sống